Phonak
Icon đặt lịch khám
Đặt lịch khám
Icon gọi hotline
Gọi Hotline: 0902 367 071

Góc thông tin

CÁC DỤNG CỤ TRỢ THÍNH- TRỢ THÍNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI BỊ KHIẾM THÍNH

CÁC DỤNG CỤ TRỢ THÍNH- TRỢ THÍNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI BỊ KHIẾM THÍNH

Người lớn tuổi thường bị điếc tiếp nhận thần kinh (ĐTNTK) nghe nhưng không hiểu lời, đặc biệt trong môi trường ồn. Nghe kém ở người cao tuổi gây trầm cảm, lẫn lộn, mất tập trung, cao huyết áp và sống thu mình, sức khỏe chung kém, giảm khả năng vận động, giảm giao tiếp. Tùy mức độ, người nghe kém có thể nói ngọng và không kiểm soát được cường độ giọng nói.

Tỷ lệ nghe kém ở Hoa kỳ cao. Theo National Health Interview Survey: 21.9 triệu người Mỹ bị điếc (1,1 triệu <18 tuổi; 20,8 triệu 65,5% ≥ 65 tuổi). Trong tương lai tuổi thọ của con người kéo dài, vì vậy người ta tiên đoán số lượng người điếc già (hay còn gọi điếc liên quan đến tuổi, lão thính) tăng.

Theo tổ chức nhân đạo “Action on Hearing Loss” hoạt động đại diện cho những người nghe kém và điếc ở Anh, mất thính lực liên quan đến tuổi là lý do phổ biến nhất đối với mất thính lực. Hơn 70% dân số trên 70 tuổi của Anh bị nghe kém.

Để phục hồi nghe cho người khiếm thính nói chung và người cao tuổi bị khiếm thính nói riêng tùy theo từng trường hợp có thể sử dụng các loại máy hỗ trợ nghe gồm: máy trợ thính cá nhân, các thiết bị cấy ghép (cấy điện ốc tai, BAHA, cấy tai giữa, cấy thân não) và các dụng cụ phụ trợ khác.

Hiện nay ở Việt nam có 2 phương pháp điều trị hỗ trợ nghe thường được áp dụng hơn là gắn máy trợ thính và cấy ốc tai điện tử nên bài này cũng xin phép nói sâu về hai loại thiết bị hỗ trợ nghe này

CÁC DỤNG CỤ TRỢ THÍNH

I. CHỨC NĂNG CỦA CÁC DỤNG CỤ TRỢ THÍNH

1. CHỨC NĂNG CỦA MÁY TRỢ THÍNH CÁ NHÂN

p

Đặc tính cơ bản là một máy khuếch đại âm thanh: Nó nhận tín hiệu âm như lời nói và chuyển thành tín hiệu điện trước khi khuếch đại. Nó khuyếch đại tất cả âm thanh trong môi trường chứ không chỉ chọn lựa riêng lời nói. Microphone tiếp nhận tín hiệu. Tín hiệu điện đến bộ phận khuyếch đại, chuyển tiếp đến bộ phận tiếp nhận, tại đây tín hiệu điện thành tín hiệu âm và truyền tiếp đến tai. Vì thế cấu tạo cơ bản của máy trợ thính cá nhân bao gồm Microphone, bộ phận khuếch đại và tiếp nhận.

2. CHỨC NĂNG CỦA ỐC TAI ĐIỆN TỬ

Là dụng cụ dùng để thay thế hệ thống truyền âm của tế bào lông tai trong đã bị hư bằng năng lượng âm cơ học. Tín hiệu âm cơ học được chuyển thành tín hiệu điện và truyền tới thần kinh ốc tai. Thành phần chủ yếu gồm 1 microphone nhận những thông tin âm học và một bộ phận xử lý bên ngoài cơ thể; 1 bộ phận phân tích có nhiệm vụ chuyển sóng âm học thành tín hiệu điện; 1 dãy điện cực đặt gần Thần Kinh thính giác.

a

II. CÁC LOẠI MÁY HỖ TRỢ THÍNH LỰC

1. CÁC LOẠI MÁY TRỢ THÍNH

1.1. Máy trợ thính kỹ thuật tương tự (Analogue hearing aid)

Các loại máy trợ thính dưới đây cung cấp một sự xử lý không thay đổi đối với các tín hiệu và bằng cách đó tiếp tục điều khiển hoặc làm thay đổi tín hiệu đưa vào.

- Vào những năm 50 máy trợ thính hộp (body-worn hearing aid) là loại duy nhất dùng cho người nghe kém. Loại này thường được gắn vào quần áo hay để vào túi nhỏ để đeo. Sau khi âm thanh thu nhận, tín hiệu điện được truyền qua một dây nối đến núm tai.

- Vào giữa những năm 70, hầu hết những người nghe kém mang máy trợ thính sau tai (BTE: Behind-the-ear). Loại này có nhiều lợi ích hơn máy trợ thính hộp:

(1) Thẩm mỹ vì có kích thước tương đối nhỏ

(2) Loại trừ ảnh hưởng tạo ra do máy bị cạ vào mình. Sự khuếch đại gia tăng ở vùng tần số dưới 800Hz này làm giảm bớt sự khuếch đại ở các tần số từ 1000 đến 2500Hz

(3) Loại trừ tiếng ồn tạo ra do quần áo và những vấn đề có liên quan đến dây nối.

CROS (contralateral routing of signal): Dùng cho người có một tai không nghe còn một tai tốt hoặc nghe kém rất ít (Harfard – Barry). Loại này có một microphone đặt ở tai không nghe nối với tai khác bằng một ống polyethylene hoặc núm tai. Microphone và bộ phận tiếp nhận có thể nối với nhau = 1 dây dẫn phía sau cổ. Như vậy người ta có thể nghe được các tín hiệu từ phía tai không nghe.

- Các loại máy trợ thính trong tai : ITE, ITC, CIC

- Máy nghe đường xương (Bone Conduction Aid).

Bộ phận tiếp nhận đặt trên xương chũm và được giữ bằng 1 vòng đầu. Bộ phận rung xương được nối với BTE, máy hộp hoặc máy nghe kín bằng 1 dây dẫn nhỏ. Ốc tai được kích thích giống như khi ta tìm ngưỡng nghe đường xương. Để kích thích tai bằng đường xương cần nhiều năng lượng hơn, vì thế chỉ dùng cho người nghe kém ít. Đáp ứng của tần số máy nghe đường xương không tốt bằng các loại máy trợ thính khác.

1.2. Máy trợ thính kỹ thuật số (Digital Heaing Aid): 

Hầu hết máy trợ thính trên thị trường hiện nay xử dụng kỹ thuật số: các tín hiệu điện được mã hóa thành hàng loạt số riêng biệt và truyền đến bộ phận xử lý tín hiệu. Loại máy này cải thiện được chất lượng âm và khả năng hiểu lời trong môi trường ồn.

2. ỐC TAI ĐIỆN TỬ

2.1. Ốc tai điện tử đơn kênh (Single-channel cochlear implant): Có hạn chế ở việc cung cấp các âm trần dưới 500Hz.

2.2. Ốc tai điện tử đa kênh (Multi – channel cochlear implant): Dựa vào lý thuyết Tonal Topic kích thích nhiều chỗ khác nhau ở ốc tai từ đó kích thích thần kinh trung ương. Điểm bất lợi của nó là kích thích đồng thời của hai hay nhiều kênh với những dạng sóng liên tục có thể tạo ra sự tổng hợp của các trường điện từ những điện cực khác nhau.

2.2.1. Advanced Bionics:

1987 - CLARION™ ra đời với sự hợp tác của 3 nhóm: 

- Advanced Bionics, Sylmar, California.

- Đại học tổng hợp California, San Francisco (UCSF)

- Viện nghiên cứu Triangle (RTI), Bắc Carolina

1991 – được phép cấy cho người lớn ở Mỹ

1993 – được phép cấy cho trẻ em và người lớn ở Châu Âu

1995 – được phép cấy cho trẻ em ở Mỹ

HiResolution™ Bionic Ear System hệ thống ốc tai duy nhất xử dụng công nghệ tạo kênh ảo từ hệ thống cấy có 16 kênh nhưng hoạt động như hệ thống có 120 kênh

2.2.2. MED-ED (Medical Electronics): 1976, 1998: Tempo + BTE.

2.2.3. Cochlear: Nucleus System: > 20.000 người cấy Nucleus trong đó >10.000 trẻ em. Có 500 trung tâm trên 50 nước trên thế giới.

III. LỰA CHỌN BỆNH NHÂN

1. ĐỐI VỚI MÁY TRỢ THÍNH.

- Những người điếc nhẹ nhưng có khó khăn nghe ở môi trường ồn.

- Những người điếc vừa và khá nặng là những người có nhiều lợi ích nhất khi mang máy trợ thính. Họ phải đeo máy liên tục để hiểu lời nói.

- Những người điếc nặng đến sâu cần phải có khuếch đại âm thanh lớn vì thế họ có lợi ích ít nhất. Chỉ định đeo máy chỉ phụ thuộc vào dữ liệu thính giác chưa đủ. Hai yếu tố khác là: bệnh nhân phải muốn và chấp nhận họ bị điếc.

2. ĐỐI VỚI CẤY ỐC TAI.

2.1. Người lớn

- Không có giới hạn tuổi.

- Có đủ tiêu chuẩn và đủ sức khỏe để mổ và gây mê toàn thân.

- Sử dụng máy trợ thính không kết quả, còn vài nghe sót lại.

- Những người vừa mới điếc có kết quả khi cấy ốc tai điện tử. Đặc biệt những người đã nghe nói bình thường rồi mới điếc thì kết quả không thể ngờ tới.

- Chuẩn lựa chọn ở người lớn là điếc thần kinh giác quan nặng hai tai trên 95dB sau phát triển ngôn ngữ, đeo máy trợ thính không hoặc có hiệu quả ít.

2.2. Trẻ em

- Ít nhất là 1 tuổi vì lý do giải phẫu.

+ Ốc tai: kích thước bằng người lớn ngay khi mới sanh.

+ Sào bào và ngách dây VII = ngách tai giữa = nơi đặt các điện cực hoạt động: 2 tuổi.

- Trẻ cần được thử đeo máy huấn luyện và theo dõi.

- Trẻ em dễ bị viêm tai giữa hơn người lớn vì thế trẻ được cấy điện ốc tai có thể bị viêm tai giữa do vật cấy khi đó phải lấy ra. Nhiễm trùng có thể đi dọc theo điện cực vào tai trong gây ra những biến chứng tai nặng nề như viêm não, thoái hóa hệ thống thính giác trung ương.

V. TRỢ THÍNH MỘT TAI VÀ HAI TAI

Một cách khách quan: những người sử dụng trợ thính nghe hai tai thường hiểu lời dễ hơn thậm chí nghe trong điều kiện ồn, việc định hướng được cải tiến, và loại trừ được sự dẫn truyền đối bên. Trợ thính hai tai tạo ra một sự gia tăng cường độ của âm thanh do sự tổng hợp hai tai. Một số nghiên cứu gần đây nhấn mạnh có sự giảm thính giác do đeo máy một tai.

VI. LỰA CHỌN VÀ ĐÁNH GIÁ MÁY TRỢ THÍNH

Lúc đầu, phương pháp so sánh của Carhart được sử dụng để đánh giá ích lợi của máy trợ thính. Người ta lựa máy trợ thính dựa vào mức độ điếc sau đó đánh giá bằng các bảng từ và so sánh kết quả giữa có máy và không máy, giữa các mức độ khuếch đại khác nhau. Quá trình này có một số bất lợi:

(1) Điều kiện thử không phải là điều kiện bệnh nhân giao tiếp hàng ngày.

(2) Bệnh nhân bị điếc ở tần số cao vẫn có thể có kết quả tốt với cách thử này, thậm chí thử trong âm nền ồn.

(3) Nhiều test nhận biết lời có kết quả khác nhau giữa lần thử này với lần thử kia.

Những năm gần đây có khuynh hướng sử dụng nhiều phương pháp có tính hướng dẫn ở nhiều cơ sở thính học khắp nước Mỹ và nước ngoài. Một vài trong số những quá trình này dựa vào ngưỡng: chỉ có sự nhạy nghe là cần thiết để tính đến các tính chất thích hợp của máy trợ thính. Một số phương pháp khác cần có ngưỡng nghe ưa thích hay ngưỡng nghe dễ chịu để xác định các tính chất của máy trợ thính.

Các phương pháp khác nhau nhưng đều cố gắng để chọn lựa máy trợ thính mà tiếng nói giao tiếp được phát ra giữa ngưỡng nghe dễ chịu và ngưỡng nghe khó chịu. Phương pháp ngưỡng dựa vào quy luật phân nửa “Gain” của Lybarger. Rất đơn giản, quy luật này đề ra ngưỡng nghe của mỗi tần số nhân với 0.5: kết quả là gain được đề nghị cho máy trợ thính tại các tần số. Máy trợ thính được chọn có đặc tính âm điện giống nhất với gain đề nghị. Đối với máy trợ thính trong tai (ITE Aid) sau khi xác định các tính chất thích hợp nhất với mức độ điếc thì yêu cầu nhà máy thiết kế máy trợ thính có gain thích hợp và đáp ứng tần số.

Để chọn lựa và đánh giá máy trợ thính, người ta có sản xuất máy kiểm tra các thông số máy trợ thính. Máy này có bộ phận giả ống tai ngoài “2-cc coupler”, cần phải biết sự khác nhau về gain nhận được ở “2-cc coupler” và ống tai ngoài, vì ống tai ngoài còn có các tính chất cộng hưởng. Một trong các đáp ứng của tai thật gọi là insertion gain. Insertion gain cho biết sự khác nhau về SPL ngay tại màng nhĩ xảy ra khi có mang máy trợ thính đang hoạt động và không mang máy trợ thính.

Một vấn đề khác liên quan đến việc chỉ định mang máy trợ thính là ngưỡng nghe khó chịu. Những người điếc thần kinh giác quan thường khó chịu với các âm lớn. Khoảng cách giữa ngưỡng nghe và ngưỡng khó chịu ở người điếc thường nhỏ hơn nhiều so với người bình thường. Vì thế cường độ âm khuếch đại ra (out put) từ máy trợ thính phải thấp hơn ngưỡng đau. 

ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC LOẠI MÁY TRỢ THÍNH

p

CÁC YẾU TỐ TRONG CHỈ ĐỊNH MANG MÁY TRỢ THÍNH

1. Bước đầu tiên trong quá trình chọn lựa bất kỳ máy trợ thính nào là xác định mức độ điếc, kiểu điếc và các điều trị cần thiết khác.

2. Nghe kém ành hưởng đến hoạt động hàng ngày của bệnh nhân như thế nào.

- Điếc nhẹ 25-35dB HL có thể chỉ cần mang máy khi cần thiết như trong cuộc họp, hay lên lớp. Cũng có người cần mang cả ngày.

- Điếc vừa 41-55dB HL: việc giao tiếp khó khăn hơn đặc biệt ở khoảng cách nhiều hơn 4 feet (1,2 mét). Những người này cần dược mang máy trong môi trường xã hội và lao động.

- Điếc > 55-70 dB HL: rất khó khăn trong giao tiếp nếu không có mang máy trợ thính.

- Điếc > 70 dB HL: không thể thiếu được máy trợ thính.

3. Khả năng nhận biết lời của bệnh nhân.

4. Khả năng chịu đựng độ lớn âm thanh của bệnh nhân.

5. Chấp nhận điếc, từ chối mang máy trợ thính, phủ nhận các lợi ích về kiến thức đã được chứng minh.

6. Nếu bệnh nhân mong đợi quá nhiều, cũng cần được giải thích thích hợp để bệnh nhân không giảm nhiệt tình muốn mang máy trợ thính.

TRỢ THÍNH CHO LÃO THÍNH

p

I. LÃO THÍNH (mất thính lực liên quan đến tuổi)

Xem xét liệu việc gắn máy trợ thính cho người cao tuổi có gì khác so với các lứa tuổi khác không, quan trọng là xem các đặc điểm của mất thính lực liên quan đến tuổi (age related hearing loss =ARHL).

Mất thính lực liên quan đến tuổi, cũng được gọi là “ lão thính “ (presbycusis), là dạng mất thính lực thần kinh giác quan (sensorineural hearing loss). Đôi khi nó được gọi là "điếc thần kinh" và ảnh hưởng lên các tế bào lông tai trong. Các tế bào lông là các cấu trúc nhỏ nằm bên trong ốc tai của tai trong và đóng vai trò chuyển các thông tin được chứa trong các sóng âm thanh đến các dây thần kinh thính giác và đi lên não.

Các tế bào lông bị hư hại có thể do có thể là do quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể và mất thính lực có thể xảy ra do cơ thể không có khả năng phát triển tế bào mới và thay thế các tế bào bị hư hại. Bên cạnh thần kinh hoặc các tế bào lông bị tổn thương, mất thính lực liên quan đến tuổi có thể là kết quả từ những thay đổi trong cấu trúc của tai trong do lưu lượng máu đến không đủ.

Thật không may, quá trình này không thể đảo ngược, các nhà khoa học vẫn đang cố gắng khám phá làm thế nào để các tế bào lông phát triển trở lại. Tuy nhiên, mặc dù một phương pháp chữa khỏi bệnh vẫn chưa được tìm thấy, tình trạng này có thể thành công thông qua việc sử dụng các thiết bị trợ thính.

II. HẬU QUẢ CỦA LÃO THÍNH KHÔNG ĐIỀU TRỊ

Các số liệu thống kê đều cho thấy cứ 100 người khiếm thính chỉ có 20% người tìm kiếm và sử dụng các thiết bị trợ thính. Điều này có nghĩa 80% những người cần trợ thính đã không sử dụng thiết bị trợ thính. 

Vấn đề chính của lão thính là tiến triển từ từ với thời gian khá chậm và vì thế khi còn ở dạng nhẹ thường bị bỏ qua. Nếu bị bỏ qua và mất thính lực tăng nhiều hơn nữa, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống xã hội và trong giao tiếp hàng ngày. Đôi khi dẫn đến các tình huống khó chịu không chỉ cho họ, mà còn cho những người trong gia đình và bạn bè. Những rắc rối như vậy có thể dẫn đến các tình trạng nặng như bị căng thẳng, mất tự tin, cũng như luôn cảm thấy lo âu, thất vọng... và một số nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh mất trí nhớ đến sớm hơn. 

III. ĐIỀU TRỊ LÃO THÍNH

p

Một số mất thính lực có thể điều trị y tế (ví dụ, mất thính lực do ráy tai làm tắc ống tai ngoài) và có thể được chữa khỏi hoàn toàn trong những trường hợp điều trị đúng phương pháp và đúng thời gian. Các loại mất thính lực khác không thể điều trị hồi phục có thể được xử lý với sự trợ giúp được thiết kế đặc biệt như:

- Trợ thính

- Các thiết bị tăng âm như điện thoại, TV, báo động

- Huấn luyện đọc hình môi và lời nói

Theo nghiên cứu của Sprinzl & Riechelmann, 2010, xem xét lại 431 nghiên cứu họ nhận thấy:

– Các kết quả về máy trợ thính đã báo cáo cho thấy sử dụng máy trợ thính là một phương pháp hiệu quả để điều trị nghe kém nhẹ và vừa khi bệnh nhân được gắn máy trợ thính thích hợp và có mong muốn, động cơ và khả năng sử dụng thiết bị

– Kết quả nhận biết lời và chất lượng cuộc sống rất tốt được ghi nhận trong điều trị lão thính nặng đến sâu với cấy ốc tai. Trong một vài nghiên cứu các kết quả về chất lượng cuộc sống vượt quá các sự mong đợi của những bệnh nhân lớn tuổi.

Tuy nhiên khi lựa chọn và gắn thiết bị trợ thính cho người cao tuổi, để có hiệu quả chúng ta cần lưu ý họ thường có khó khăn nhiều hơn các lứa tuổi khác ở các tình huống nghe ồn và phức tạp.

(Meister & von Wedel, 2003) nghiên cứu so sánh 2 nhóm tuổi (khoảng 45 và khoảng 75) họ tìm thấy cả hai nhóm đánh giá tầm quan trọng của các thuộc tính sau như nhau: Hiểu lời nói trong yên tĩnh, hiểu lời nói trong tiếng ồn, chất lượng âm thanh, định hướng, và kiểm soát tiếng hú. Nói cách khác, những điều này là những mong muốn và nhu cầu khá chuẩn từ máy trợ thính của các lứa tuổi. Một khác biệt đã được tìm thấy từ hai nhóm là người lớn tuổi đánh giá xử lý, hoặc dễ sử dụng quan trọng hơn.

Trong khi mối quan hệ giữa xử lý thời gian và nhận biết lời tuy chưa hoàn toàn hiểu đầy đủ nhưng chúng ta có thể nghi ngờ rằng một số thiếu hụt trong xử lý thời gian có thể giải thích một số thay đổi trong nhận biết lời nói của người lớn cao tuổi.

Gordon-Salaam và Fitzgibbons (1993) đã nghiên cứu thời gian vang của tiếng nói và tuổi ảnh hưởng nhận biết tiếng nói như thế nào. Họ nhận thấy với các thời gian vang ngắn, có rất ít ảnh hưởng tuổi; người cao tuổi và người lớn trẻ tuổi có sức nghe bình thường thực hiện rất giống nhau và có điểm số nhận biết lời rất cao, và người lớn cao tuổi và trẻ tuổi bị mất thính lực thực hiện tương tự. Khi thời gian vang kéo dài hơn họ bắt đầu nhận thấy một sự tách biệt rõ ràng các nhóm Tuổi không phụ thuộc vào mất thính lực - Người nghe trẻ hơn có thính lực bình thường đã bị giảm hiệu suất và người nghe cao tuổi có thính giác bình thường thậm chí bị ảnh hưởng nhiều hơn. Nghe kém thậm chí làm tăng thêm các khó khăn, đặc biệt đối với người nghe cao tuổi bị mất thính lực. Dường như ở đây có một sự tích tụ các tác động của lão hóa và các ngưỡng nghe đối với nhiệm vụ nghe phức tạp. 

Dưới đây là nguyên tắc chung gắn máy trợ thính cho người cao tuổi: 

1. Phục hồi khả năng nghe

Quan trọng nhất, chọn kỹ thuật xử lý nào có thể phục hồi khả năng nghe và bù được mất thính lực. Cần chọn kỹ thuật gây rối tối thiểu cho tín hiệu tiếng nói với rất ít méo tiếng.

2. Cải thiện tỷ lệ tiếng nói trên tiếng ồn.

Lựa công nghệ có thể giúp cải thiện tỷ lệ tín hiệu trên tiếng ồn.. Điều này quan trọng cho tất cả người nghe bị nghe kém nhưng dường như thậm chí quan trọng hơn đối với người nghe cao tuổi. 

3. Hãy xem xét thay đổi cá nhân trong xử lý khả năng nghe, nhận thức và nhiễu hai tai.

Đối với người cao tuổi chúng ta cần xem xét thay đổi cá nhân ở một vài lĩnh vực như khả năng xử lý công nghệ của họ. Chúng ta cũng cần xem xét sự khác biệt trong nhận thức và chúng thể hiện trong việc lựa chọn xử lý như thế nào. Mặc dầu hầu hêt chúng ta nghe hai tai tốt hơn một tai, nhưng cũng có một vài người cao tuổi nghe một tai tốt hơn hai tai vì vậy đối với người cao tuổi chúng ta cũng nên để ý vấn đề này.

Tài liệu tham khảo

Cox, R. M., Alexander, G. C., & Gray, G. A. (2005). Who wants a hearing aid? Personality profiles of hearing aid seekers. Ear and Hearing, 26(1), 12-26.

Cox, R.M. & Xu, J. (2010). Short and long compression release times: speech understanding, real-world preferences, and association with cognitive ability. Journal of the American Academy of Audiology, 21(2),121-38.

Fitzgibbons, P.J. & Gordon-Salant, S. (1994). Age effects on measures of auditory duration discrimination. Journal of Speech and Hearing Research, 37, 662-670.

Franks, J. R. & Beckmann, N. J. (1985). Rejection of hearing aids: Attitudes of a geriatric sample. Ear & Hearing, 6(3), 161-166.

 

BsCKII. Nguyễn Thị Bích Thủy